Vị trí: Làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Đặc điểm: Tranh Làng Sình chủ yếu phục vụ cho việc thờ cúng của người dân trong vùng.
Làng
Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà - một cảng sông nổi tiếng
thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố
Bao Vinh - một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây
còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một
trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ,
làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân
khắp vùng.
Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng. Có thể phân làm ba loại:
- Tranh
nhân vật chủ yếu là tranh tượng bà, vẽ một người phụ nữ xiêm y rực rỡ
với hai nữ tì nhỏ hơn đứng hầu hai bên. Tượng bà còn chia thành ba
loại: tượng đế, tượng chùa, và tượng ngang. Loại tranh này dán trên bàn
thờ riêng thờ quanh năm.
- Lại còn các loại tranh khác gọi là
con ảnh, gồm hai loại: ảnh xiêm vẽ hình đàn ông đàn bà, và ảnh phền vẽ
bé trai bé gái (phải chăng phền do chữ phồn thực của Ðông Hồ). Các loại
nhân vật còn lại là tranh ông Ðiệu, ông Ðốc và Tờ bếp (có lẽ tranh vẽ
Táo quân). Các loại tranh này sẽ đốt sau khi cúng xong.
- Tranh
đồ vật vẽ các thứ áo, tiền và dụng cụ để đốt cho người cõi âm: áo ông,
áo bà, áo binh, tiền, cung tên, dụng cụ gia đình… thường là tranh cỡ
nhỏ. Tranh súc vật (gia súc, ngoài ra còn có voi, cọp và tranh 12 con
giáp) để đốt cho người chết.
Tranh làng Sình có thể sánh
với các dòng tranh miền Bắc (như Ðông Hồ, Kim Hoàng, Hàng Trống), một
thời đã lưu hành khắp vùng Thuận Quảng. Sình là tên nôm của làng Lại
Ân, cách Huế chừng 7km về phía đông bắc. Sách Ô Châu cận lục ra đời hồi
thế kỷ 16 đã nói đến Lại Ân như một địa danh trù phú.
Xóm Lại Ân canh gà xào xạc
Giục khách thương mua một bán mười...
Vào
khoảng tháng năm, tháng sáu, khi trời nắng to nước cạn, từng nhóm 57
chàng trai dong thuyền dọc theo đầm phá Tam Giang, đến Cầu Hai, Hà
Trung, Lăng Cô để cào điệp, một loại trai sò có vỏ mỏng và phẳng. Có
loại điệp chết đã lâu ngày vỏ lắng dưới bùn gọi là "điệp bùn", khi nhặt
chỉ còn là những mảnh màu trắng, mỏng, mềm dễ sử dụng hơn. Loại điệp
mới chết gọi là "điệp bầy" nổi trên bùn, có vỏ cứng lẫn nhiều màu đen.
Ðiệp đem về loại hết tạp chất, chỉ còn lại lớp vỏ trắng bên trong, được
đem giã nhỏ. Mỗi cối giã có từ 26 người thay nhau giã, gần như suốt đêm
tới sáng. Những câu hò giã điệp cũng vang lên như lúc giã gạo. Bột điệp
lấp lánh trộn với bột nếp khuấy thành hồ, phết lên giấy sẽ cho ra một
thứ giấy trắng lấp lánh ánh bạc. Bàn chải quét điệp làm bằng lá thông
khô bó lại, gọi là cái “thét”. Khi chiếc thét quét qua mặt giấy sẽ để
lại những vệt trắng song song lấp lánh.
Ðể kiếm các loại cây cỏ
pha chế màu có khi họ phải lên tận rừng già phía tây Thừa Thiên - Huế.
Hai thứ cây chỉ có ở đây là cây trâm, phải chặt từng đoạn mang về, sau
đó mới chẻ nhỏ để nấu màu; còn cây đung thì hái lá và bẻ cành. Lá đung
giã với búp hòe non sẽ cho màu vàng nhẹ. Các màu khác cũng được làm từ
cây cỏ trong vườn như hạt mồng tơi cho màu xanh dương, hạt hòe cho màu
vàng đỏ, muốn có màu đỏ sẫm thì lấy nước lá bàng. Ngoài ra người làng
Sình còn dùng đá son để lấy màu đỏ, bột gạch để có màu đơn. Màu đen
được dùng nhiều nhất, lại là màu dễ làm nhất. Người ta lấy rơm gạo nếp
đốt cháy thành tro, sau đó hòa tan trong nước rồi lọc sạch để lấy một
thứ nước đen, đem cô lại thành một thứ mực đen bóng. Những màu chủ yếu
trên tranh làng Sình là các màu xanh dương, vàng, đơn, đỏ, đen, lục.
Mỗi màu này có thể trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng phải
trộn thêm keo nấu bằng da trâu tươi.

Tranh Sình có kích thước
tùy thuộc vào khổ giấy dó thông dụng. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm,
được xén thành cỡ pha đôi (25x35), pha ba (25x23) hay pha tư (25x17).
In tranh khổ lớn thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc
phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván
in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi
bóc giấy ra. Với tranh nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván
in dập lên.
Bản in đen chờ cho khô thì đem tô màu. Tuy màu tô
không tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều
có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng
tranh. Công việc "điểm nhãn" ở một số tranh cũng do thợ chính làm nhằm
tăng thêm vẻ sinh động của tranh.
Những mảng màu lớn thì dùng
một thứ bút riêng làm bằng tre gọi là thanh kẻ để tô màu. Những chi
tiết nhỏ thì dùng bút lông đầu nhọn. Việc tô màu được làm theo dây
chuyền, mỗi người phụ trách một hai màu, tô xong lại chuyển cho người
khác. Những bàn tay tô màu như múa thoăn thoắt trên tờ tranh, có người
kẹp hai, ba cây bút ở đầu ngón tay để tô cùng một lúc hai, ba mảng màu.
Ðiểm nỗi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô
sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo của nó là ở chỗ tô
màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên.
Cố họa sĩ Phạm Ðăng Trí, người họa sĩ tài hoa của đất thần kinh xưa, đã
tìm thấy trong tranh Sình bảng màu "ngũ sắc Huế", hơi khác với bảng
"ngũ sắc phương Đông". Và nếu ta so sánh những gam màu sử dụng trên
tranh thờ sẽ thấy nó gần gũi với tranh pháp lam trang trí trên các kiến
trúc của kinh thành xưa. Ðó là sự hòa sắc giữa vàng với chàm, đỏ với
bích ngọc, xanh với hỏa hoàng, phí thủy với hổ phách...