Vị trí: Đường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Hà Nội.
Ðặc điểm: Văn
Miếu được xây dựng tháng 10 năm 1070, thờ Khổng Tử, các bậc Hiền triết
của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu
đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Năm 1076, nhà Quốc Tử
Giám được xây kề sau Văn Miếu, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau
mở rộng thu nhận cả các học trò giỏi trong thiên hạ.
Văn Miếu có
tường bao quanh xây bằng gạch. Bên trong có những lớp tường ngăn ra làm
5 khu. Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính, trên cổng có chữ Văn Miếu,
dưới cổng là đôi rồng đá mang phong cách thời Lê sơ (thế kỷ 15). Lối đi
ở giữa dẫn đến cổng Ðại Trung Môn mở đầu cho khu thứ hai. Hai bên còn
hai cổng nhỏ. Vẫn lối đi ấy dẫn đến Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của sao
khuê, chủ đề văn học). Hai bên gác cũng có hai cổng nhỏ. Khu thứ ba là
từ gác Khuê Văn tới Ðại Thành Môn, ở giữa khu này có một hồ vuông gọi
là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời trong sáng) có tường bao quanh.
Hai
bên hồ là hai khu vườn bia tức nơi dựng các tấm bia ghi tên những người
đỗ tiến sĩ (năm 1993 với sự tài trợ một phần của tổ chức doanh nghiệp
Mỹ, Ban Quản lý Văn Miếu đã dựng được tám ngôi nhà che cho các bia
này). Tiến sĩ là người đỗ cao nhất trong kỳ thi Ðình. Ngày trước, người
đi học sau khoảng 10 năm đèn sách đủ vốn chữ để dự thi Hương tức khoa
thi tổ chức liên tỉnh, cứ ba năm mở một khoa. Ðạt điểm cao của kỳ thi
này đạt học vị Cử nhân. Năm sau các ông Cử tới kinh đô dự kỳ thi Hội.
Những người đủ điểm chuẩn sẽ dự kỳ thi Ðình (thi Hội và thi Ðình thực
ra là hai giai đoạn của một cuộc thi). Trúng tuyển kỳ thi này được gọi
là Tiến sĩ. Ðỗ Tiến sĩ có thể được bổ làm quan. Hiện có 82 bia, xưa
nhất là bia ghi về khoa thi năm 1442, muộn nhất là bia khoa năm 1779.
Ðó là những di vật quý nhất của khu di tích. Bước qua cửa Ðại thành là
tới khu thứ tư. Một cái sân rộng, hai bên là dãy nhà Tả Vu, Hữu Vu, vốn
dựng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà Ðại bái và Hậu cung,
kiến trúc đẹp và hoành tráng. Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái
có chuông đúc năm 1768, bên phải có một tấm khánh đá, trên mặt có khắc
bài văn nói về công dụng của loại nhạc khí này.
Bố cục của toàn thể
Văn Miếu như vậy muộn nhất là cũng có từ đời Lê (thế kỷ 15 - thế kỷ
18). Riêng Khuê Văn Các mới được dựng khoảng đầu thế kỷ 19, nhưng cũng
nằm trong quy hoạch tổng thể vốn có của những Văn Miếu (như Văn Miếu ở
Khúc Phụ, Trung Quốc, quê hương của Khổng Tử, có đủ Ðại Trung Môn, Khuê
Văn Các, Ðại Thành Môn, Ðại Thành Ðiện, bia tiến sĩ...). Khuê Văn Các ở
Văn Miếu Hà Nội thường là nơi tổ chức bình các bài văn thơ hay của các
sĩ tử.
Sau khu Ðại Bái vốn là trường Quốc Tử Giám đời Lê, một
loại trường đại học đương thời. Khi nhà Nguyễn rời trường này vào Huế
thì nới đây chuyển làm đền Khải Thánh thờ cha và mẹ Khổng Tử, nhưng đền
này đã bị hư hỏng trong chiến tranh. Văn Miếu là quần thể di tích đa
dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội.